|

Giời
Thiệu Về Phú Quốc
Phú Quốc hay còn gọi là Đảo Ngọc, là
hòn đảo lớn nhất của Việt Nam, cũng
là đảo lớn nhất trong quần thể 22
đảo tại đây, nằm trong vịnh Thái Lan.
Đảo Phú Quốc cùng với các đảo khác
tạo thành huyện đảo Phú Quốc trực
thuộc tỉnh Kiên Giang. Toàn bộ huyện
đảo có tổng diện tích 593,05 km²,
xấp xỉ diện tích đảo quốc Singapore.
Thị trấn Dương Đông, tọa lạc ở phía
tây bắc, là thủ phủ của huyện đảo.
Phú Quốc nằm cách thành phố Rạch Giá
120 km và cách thị xã Hà Tiên 45 km.
Vị trí địa lý
Vùng biển Phú Quốc có 22 hòn đảo lớn
nhỏ, trong đó đảo Phú Quốc lớn nhất
có diện tích 574 km² (56.200 ha),
dài 50 km, nơi rộng nhất (ở phía bắc
đảo) 25 km. Điểm cao nhất tới 603 m
(núi Chúa). Địa hình thiên nhiên
thoai thoải chạy từ nam đến bắc với
99 ngọn núi đồi. Phần các vùng biển
quanh đảo nông có độ sâu chưa đến 10
m. Tuy nhiên, cụm đảo nhỏ của cảng
An Thới bị ngăn cách hẳn với phần
mũi phía nam của đảo Phú Quốc bởi
một eo biển có độ sâu tới hơn 60 m.
Các đơn vị hành chính trực thuộc,
Phú Quốc được chia thành 8 xã, 2 thị
trấn là:
1.Thị trấn Dương Đông
2. Thị trấn An Thới
3. Xã Dương Tơ
4. Xã Cửa Cạn
5. Xã Gành Dầu
6. Xã Cửa Dương
7. Xã Bãi Thơm
8. Xã Hòn Thơm
9. Xã Hàm Ninh
10. Xã Thổ Châu
Mã
số điện thoại để gọi tới Phú Quốc:
077 (trong nước) hoặc +8477 (từ nước
ngoài)
Nguồn gốc tên gọi
Tên gọi Phú Quốc (富國) do người Hoa
đến đây lập nghiệp đặt, có nghĩa là
"vùng đất giàu có".
Theo dòng lịch sử
• Năm 1671, một người Hoa tên Mạc Cửu (Mạc Kính Cửu), quê ở Lôi Châu tỉnh
Quảng Đông, mang cả gia đình, binh
sĩ và một số sĩ phu khoảng 400 người
lên thuyền rời khỏi Phúc Kiến. Sau
nhiều ngày lênh đênh trên biển cả,
phái đoàn Mạc Cửu đổ bộ lên một vùng
đất hoang trong vịnh Thái Lan. Sau
khi dò hỏi và biết vùng đất này
thuộc ảnh hưởng Chân Lạp, phái đoàn
liền tìm đường đến Oudong xin tị nạn,
nhưng lúc đó nội bộ Chân Lạp có loạn.
Mạc Cửu gặp Nặc Ông Thu (Ang Sur,
Jayajettha III) và ở lại hợp tác cho
đến năm 1681.
• 1680, Mạc Cửu đã lập ấp rải rác từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch
Giá, Cà Mau. Hà Tiên trở thành
thương cảng quan trọng, thôn ấp định
cư nằm sát mé biển, thuận tiện cho
ghe thuyền tới lui, hoặc ở đất cao
theo Giang thành, sông Cái Lớn, sông
Gành Hào, Ông Đốc để canh tác.
• Ông lập ra 7 sòng bạc dọc bờ biển: Mán Khảm (Peam), Long Kỳ (Ream), Cần
Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong Som),
Sài Mạt (Cheal Meas), Linh Quỳnh (Rạch
Giá) và Phú Quốc (Koh Tral). Thủ phủ
đặt tại Mán Khảm (cảng của người Mán,
tức người Khmer), sau đổi thành Căn
Khẩu (Căn Kháo hay Căn Cáo). Tiếng
đồn vang xa, lưu dân gốc Hoa từ khắp
nơi trong vịnh Thái Lan xin vào đây
lập nghiệp, dần dần vùng đất này trở
thành một lãnh địa phồn vinh với tên
gọi mới: Căn Khẩu Quốc. Đảo Koh Tral
cũng đổi tên thành Phú Quốc (vùng
đất giàu có).
• Năm 1708, Mạc Cửu liên lạc được với Chúa Quốc Nguyễn Phúc Chu.
• Năm 1714, Mạc Cửu xin làm thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong chức
tổng binh cai trị đất Căn Khẩu.
• Năm 1724, Mạc Cửu dâng luôn toàn bộ đất đai và được phong làm đô đốc
cai trị lãnh thổ Căn Khẩu, đổi tên
thành Long Hồ dinh.
• Từ 1729, Long Hồ dinh nổi tiếng là
vùng đất trù phú nhất vịnh Thái Lan.
• Năm 1735, Mạc Cửu mất, con là Mạc Sĩ Lân, sau đổi thành Mạc Thiên Tứ,
được phong làm đô đốc, kế nghiệp cha
cai trị Long Hồ dinh. Gia đình họ
Mạc được Ninh vương Nguyễn Phúc Trú
nâng lên hàng vương tôn. Long Hồ
dinh đổi tên thành trấn Hà Tiên.
• Năm 1739, Mạc Thiên Tứ lập thêm bốn huyện: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên
Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần
Thơ) và Trấn Di (bắc Bạc Liêu).
•Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn lãnh thổ hai phủ
Tầm Bôn (Cần Thơ) và Lôi Lập (Long
Xuyên) để được về Nam Vang cai trị.
Năm 1758, chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn (Ang
Ton II) lên làm vua và được tặng
thêm lãnh thổ Tầm Phong Long (Châu
Đốc và Sa Đéc). Nặc Tôn tặng riêng
Mạc Thiên Tứ lãnh thổ 5 phủ miền
Đông-Nam Chân Lạp: Hương Úc (Kompong
Som), Cần Bột (Kampot), Trực Sâm (Chưng
Rừm), Sài Mạt (Cheal Meas) và Linh
Quỳnh (vùng duyên hải từ xã Sré
Ambel đến làng Peam), nói chung là
toàn bộ vùng biển ven duyên quanh
đảo Phú Quốc, Mạc Thiên Tứ dâng hết
cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Võ
vương sát nhập tất cả các vùng đất
mới vào trấn Hà Tiên, giao cho Mạc
Thiên Tứ cai trị.
Dân cư
Trước năm 1975 dân số trên đảo chỉ
hơn 5000 người. Sau năm 1975, dân số
trên đảo tăng lên nhanh chóng do
hiện tượng di dân. Đến năm 2003,
theo thống kê của tỉnh Kiên Giang
dân cư sinh sống trên đảo đã lên đến
trên 79.800 người, với mật độ trung
bình là 135 người/km², thấp hơn mật
độ trung bình của cả nước 253 người/km².
•Các khu dân cư chính:
•Thị trấn Dương Đông
•Thị trấn An Thới
•Xóm Hàm Ninh
•Xóm Cửa Cạn
•Hòn Thơm
Văn
hóa, tôn giáo
Dinh Cậu
Phú Quốc được xem là nơi phát tích
của đạo Cao Đài. Ngày nay trên đảo
có một thánh thất Cao Đài ở thị trấn
Dương Đông.
Trên đảo có duy nhất một nhà thờ đạo
Thiên chúa ở thị trấn An Thới, đó
cũng là nơi trước đây tập trung dân
di cư từ miền bắc vào năm 1954.
Ở đảo Phú Quốc, vào ngày rằm tháng 7
âm lịch người dân thường đi chùa tại
thị trấn Dương Đông. Vào ngày này
sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá nhộn
nhịp.
Khí hậu - Thủy văn
Do vị trí đặc điểm của Đảo Phú Quốc
nằm ở vĩ độ thấp lại lọt sâu vào
vùng vịnh Thái Lan, xung quanh biển
bao bọc nên thời tiết mát mẻ mang
tính nhiệt đới gió mùa. Khí hậu chia
hai mùa rõ rệt, mùa khô bắt đầu từ
tháng 11 âm lịch đến tháng 4 âm lịch
năm sau và mùa mưa bắt đầu từ tháng
5 âm lịch đến tháng 10 âm lịch năm
sau. Mùa khô: Đảo Phú Quốc chịu ảnh
hưởng gió mùa Đông Bắc có cường độ
tương đối mạnh, tốc độ gió trung
bình 4 m/s. Khi gió Đông Bắc mạnh,
tốc độ đạt từ 20 đến 24 m/s. Mùa khô
có độ ẩm trung bình 78%. Nhiệt độ
cao nhất 35 độ C vào tháng 4 và
tháng 5. Mùa mưa: Đảo Phú Quốc là
cửa ngõ đón gió mùa Tây - Tây Nam,
tốc độ gió trung bình 4,5 m/s. Mùa
mưa mây nhiều, độ ẩm cao, từ 85 đến
90%. Lượng mưa trung bình là 414 mm/tháng.
(Cả năm trung bình là 3000 mm).
Trong khu vực Bắc đảo có thể đạt
4000 mm/năm; có tháng mưa kéo dài 20
ngày liên tục. |